Cậu bé thật hiếu học, nhưng sống trong môi trường mà việc học hầu như bị quên lãng. May sao, chị trong làng sớm phát hiện cậu bé có rất nhiều tài năng, nên đã xin phép và hỗ trợ cho cậu được đi trường. Trong mỗi hoàn cảnh ngặt nghèo, khó khăn, cậu vẫn không nản lòng hay nao núng. Và cứ thế, lớn lên, thi Tú Tài 1, rồi 2, … và cậu đã tốt nghiệp trường sĩ quan Thủ Đức.
Đó chính là hình ảnh năm xưa của người cha vô cùng yêu kính của tôi.

* * *

Là một sĩ quan Công Binh, Ba thích làm việc có tổ chức, siêng năng và miệt mài. Ba đã cứu xét không biết bao nhiêu chồng hồ sơ cao ngất một cách thật chu toàn. Ba gặp cũng lắm trở ngại, nhiều gian nan, thử thách, có khi thật gay go từ một vị xếp trên mới điều về. Thế nhưng Ba vượt qua được tất cả bằng sự lạc quan, chăm chỉ và nhẫn nại… rồi lên cấp đều đều. Có lần trước khi được phái ra nước ngoài, chụp hình phổi, Ba mới phát giác ra vấn đề.
Trong một buổi chiều mưa gió bão bùng, trên đường lái xe Jeep về, Ba ghé qua tiệm sách nhỏ bên đường và vô tình nhặt lên một chồng giấy cũ đóng vội lại với nhau (hay một cuốn sách nhàu?). Trên trang giấy này, Ba đã tìm ra phương pháp chữa trị tự nhiên và hoàn hảo: Gạo lức, muối mè. Nhai phải nhuyễn như nước và không ăn thêm chi cả. Ba quăng hết các lọ thuốc tây ra sọt rác. Ba khước từ mọi dạ tiệc. Cứ trong văn phòng xét duyệt, kiên trì với lức mè hơn một năm. Lúc chụp hình lại, bác sĩ rất đỗi ngạc nhiên.

Khi tới phiên trực, Ba thường chở chúng con đi cùng. Tối đến, dưới bầu trời đầy sao lấp lánh, Ba cho con ngồi trước mui xe Jeep, lái chầm chậm, cho gió mát tạt vào. Vừa thích thú trong sự liều lĩnh của dòng máu nhà binh, vừa thần tiên như đang được Ba chấp cánh, cho con bay vào một thế giới tự do.

Ba xây nhà vững chắc cho chúng con an trú, nền móng thật dày, để xây lên cho mỗi “đứa” một tầng. Ba đang tính đến tương lai khi chúng lập gia đình, để tất cả đều đoàn tụ cùng chung dưới một mái nhà.
Sáng, tài xế rước, Ba uy nghi trong quân phục lên xe. Tối về, Ba thường vui cười, đùa giỡn với các con. Ba hay đặt con sitting on Ba’s lap, khen con có cặp tai thật tốt, và sóng mũi sẽ rất giàu… Nhận xét vô tư này đã đi vào tâm thức, cho con biết lắng nghe mình thật kỹ và không bao giờ cảm thấy thiếu tình cha.

* * *

Bão táp 75 đã cuốn Ba cùng biết bao sĩ quan QLVNCH vào trại cải tạo. Vị được phái làm tổ trưởng hay thích trò chuyện với Ba và phát hiện Ba thật khéo léo, tài tình, nên tuyển Ba vào nhóm đan sọt của ông ta. Trong những ngày đầu các ngón tay Ba thường bị chảy máu với nứa, tre, mây... Nhưng tính tìm tòi, học hỏi và kiên nhẫn của Ba đã thấm sâu, hòa lẫn vào trong máu, chẳng mấy chốc thành bao chiếc sọt thật vững vàng, kiên cố, ẩn, bao trong một nghệ thuật đẹp mắt tuyệt vời. Thành phẩm Ba làm luôn vượt chỉ tiêu. Còn giờ, Ba tranh thủ làm quà gởi ra cho từng đứa. Từ những mẩu mi-ca, sắt vụn… Ba góp nhặt từ chiếc máy bay phế thải, con đã sung sướng được chải lên mái tóc thơ thêm mượt mà, đen bóng bằng chiếc lược Ba đã nắn nót tên con.
Con vẫn chưa hiểu bằng cách nào Ba làm ra những mảnh kim loại đan móc theo nhiều kiểu cách khác nhau, nhưng tụ chung trong mỹ thuật tinh vi và sắc sảo. Rồi những mắt ấy đan quyện vào nhau thật nhu nhuyễn, liên kết dài thành một sợi dây chuyền, ngọt ngào, êm dịu, vòng qua cổ, chạy dài bao bọc, chở che con. Mặt dây chuyền là một mảnh mi-ca hình trái soan, thoi hay bầu dục. Không thấy Ba khắc trước hay sau, nhưng ngay chính giữa, hình ảnh Ngài Quán Thế Âm lại uy nghi hiển hiện, tôn nghiêm mà dịu dàng, ban cho con sự an toàn trong hơi ấm của trái tim từ bi biết hiểu và thương; tà áo Ngài thướt tha, mềm mỏng, an ủi, vỗ về con trong năm tháng vắng Ba. Ba chu đáo thỉnh vị tuyên úy cùng trại chú niệm trước. Chiếc vòng làm xong, Ba điêu khắc vuông, tròn, chạy quanh viền các dây hoa nhã nhặn, đơn sơ mà tiềm ẩn một sức mạnh dai, bền. Có khi, bằng những hình thái khác nhau, giản dị, tạo nên một cảm giác bình an. Nhưng tất cả đều chừa ra một khoảng trống chỉ vừa vặn lách vào vòng tay gầy, ôm lấy yêu thương.

* * *

Ba ra trại về nhà trong một buổi trưa rất nắng. Nhưng con không nhớ nóng, vì bóng Ba từ nay lại che mát đường con. Ba ốm gầy trong khắc khoải, nhưng mắt vẫn sáng trong tháng ngày đen tối, giọng nói vẫn trong trẻo, tràn trề sinh lực giữa ngặt nghèo, và nụ cười vẫn tươi trong năm tháng nhọc nhằn. Con hay theo Ba lên lầu, ra ban công phía sau hè, có lan can an toàn, nhưng gió mát vẫn tràn vào. Cha con mình kể chuyện nhau nghe, và làm chung những projects nhà nghèo.

Trong bữa cơm, Ba biết con ăn chậm, nên hay gắp thức ăn tiếp vào trong bát, kẻo con ngần ngại, e dè. Có buổi sáng Ba đạp xe chở con đi ăn phở, súp nóng cho tình cha con thêm ấm; chở con về, Ba lại phải đi ngay. Rồi những tối, vẫn là những ngôi sao lấp lánh, Ba cho con đi ăn chè đậu đỏ hay ba màu, phía trường NTH, mà nhất định phải là chè bà áo tím. Đậu, đường, dừa, đá bào mới hòa hợp đúng dose, cho con ngọt bùi vơi đi cay đắng giữa cuộc đời thay trắng đổi đen. Ba ăn chậm, cố ý chờ, cho con khỏi sốt ruột, như Ba vẫn thường nhẫn nại an ủi, vỗ về khi con cảm thấy bất an; từ tốn thuyết phục con trong mỗi mẩu chuyện ly kỳ. Ba cho con hiểu, không bằng ngôn từ, mà chính là thân giáo: người đi bộ hay, nhanh hay chậm vẫn đều đi được. Có lần con bị lên ban nóng sốt, Ba không biết làm sao cho con ăn được. Đi đâu về, Ba mang cho miếng đu đủ ngọt, giòn. Miếng đu đủ con không bao giờ tìm lại được. Nó đã làm mát dịu ngay cơn sốt, và làm tươi lại những ngày dài héo hon, hiu hắt trên giường.

* * *

Rồi một tối vẫn những vì sao lấp lánh, con đi chùa về, không thấy Ba đâu. Nhiều ngày sau đó, Ba đi đâu, vẫn chưa về. Lan can vẫn còn đó, nhưng ban công chơ trọi, quá cô đơn và trống trải. Con lại đi chùa để khấn nguyện: hoặc không được, trả Ba về an toàn vô sự, hoặc hãy đẩy Ba đến bến bờ tự do một cách bình an.

Ba có sự lựa chọn đi Pháp, Canada hay Mỹ. Ba hỏi chú, cùng phân tích tỉ mỉ, Ba quyết định chờ đến ngày qua Mỹ để các con có nhiều cơ hội tiến thân. Tiếp theo là những gói bưu điện gởi về. Tài chánh trong nhà bắt đầu ổn định. Sau này con hiểu được là những giọt mồ hôi từ buổi sáng sớm vẫn còn khuya, đến xế trưa, Ba nhọc nhằn trong đồng lương khiêm tốn. Rồi những đêm Ba xếp hàng trước sở di trú, để sáng sớm hôm sau được trình bày, xét duyệt. Với tình thương không một lần mỏi mệt, và một lòng kiên trì, cương quyết chưa bao giờ thoái chuyển, thật là nhanh, nhà nhận được big news. Quá đỗi vui và vô cùng may mắn trong diễm phúc không dám nghĩ dù là trong tưởng tượng. Ba lại chấp cho con đôi cánh, nhưng lần này là của con chim sắt, cho con bay cao trên bầu trời của những vì sao ấy, thật an toàn và tràn trề hứa hẹn.
Ba liều lĩnh hy sinh, gian nguy đến tính mạng, đương đầu với sóng biển dập dềnh và chiến đấu với đói khát trên tàu trong suốt 13 ngày đầy gian nan, nhiều nguy khó. Nhưng thử thách nào Ba cũng vẫn vượt qua, để cho con được nghiễm nhiên đặt chân lên đất Mỹ, với thật nhiều cơ hội để tiến thân. 
Gia đình mình đoàn tụ, cho con gặp lại Ba vào buổi tối, dưới bầu trời cao lại ngập tràn ánh sáng sao, trong tiết trời lành lạnh, con cảm nhận cuộc sống mới bắt đầu, nhiều thử thách, cho thành công thêm ý nghĩa.

* * *

Ba đi làm về trưa nắng cháy, cho con đi tập lái xe ngay. Ngày đi thi, Ba cho con bình tĩnh, parallel parking, con vào cái một đến ngạc nhiên. Nhưng khi lùi xe ra, con tưởng đâu riêng người cảnh sát này thích ra dấu khi vào, sẽ muốn ra dấu lúc con tiến ra. Chạm cột mốc làm mọi người ngơ ngác, tiếc ngẩn ngơ.
Một ngày nọ đi làm về, Ba không giấu được niềm vui trong hào hứng. Ba trân trọng trao cho con một phong bì nhỏ. Đó là warranty của chiếc máy mới, Fisher. Cho con nghe radio, mau hội nhập đời sống mới và nghe lại nhạc khi tâm tư cần đến. Chiều đến, Ba cho con đi học tiếng Anh. Ngày đầu vào, họ giới thiệu đầu tư. Và từ đó, con đã đầu tư thời gian và công sức, siêng năng, chăm chỉ, miệt mài và cương quyết, hy vọng một phần được giống như Ba. 
Tốt nghiệp xong, vẫn vừa làm vừa học, để ra trường Master of Science Top Honor, như Ba hay dùng để vừa chọc, vừa khen; đạt nhiều thành tụ trong công tác, và gắng công đóng góp cho đời; đi chùa, công quả, cúng dường, bố thí, ấn tống kinh điển… vẫn chẳng thể nào đền đáp một hạt bụi công ơn to lớn, sâu rộng của Ba đâu.

* * *

Qua bao tháng năm xa cách, Ba con mình lại được gặp nhau trong những cuộc điện đàm thật sôi nổi, hào hứng và dân chủ. Ba cho con phát biểu thật lòng, rồi nhận xét khách quan, bình đẳng. Các đề tài thường về Phật pháp. Những dữ kiện kỳ thú lồng trong lịch sử, những bằng chứng hiển nhiên, cụ thể và những mẩu chuyện khó quên cho bài học diệu kỳ. Đó là sự liên kết của Phật học năm xưa với khoa học hiện đại ngày nay và sắp tới. Đó là về pháp tu trí tuệ, nhìn thấu vào nhân quả, chiêm nghiệm ra pháp Phật nhiệm màu; lấy từ bi, tha nhân, khoan dung và độ lượng, làm cam lộ rửa sạch bao nghiệp chướng, tai ương… Và đó là chú Thủ Lăng Nghiêm! Không biết bao nhiêu lần Ba dày công, nhẫn nại, tận tình và kiên trì thuyết phục, khuyến dụ chúng con học chú Thủ Lăng Nghiêm. Nói bao nhiêu chuyện, đề tài thiên hình vạn trạng, một cách hăng hái, nhiệt tình, hay nhẹ nhàng, êm ái… rồi Ba cũng đưa về chú Thủ Lăng Nghiêm. Có khi Ba còn đoán trước: Ba biết là con nghĩ sao Ba cứ nói hoài, nhưng… Nhờ Ba mà Me và rể của Ba đã thuộc nằm lòng. Con có thưa với Ba con đang tụng chú Thủ Lăng trong công phu mỗi ngày, và con có thể đọc khá nhanh… nhưng con đoán Ba không chấp thuận, phải thuộc lòng mới tính.

Hôm con qua thăm Ba, con tìm thấy cuốn II của bộ kinh Lăng Nghiêm sát bên ghế Ba hay ngồi, trong đó Ba dùng sticker màu vàng nhỏ làm dấu trên trang đầu của bài chú và ghi rõ ràng Chú Thủ Lăng Nghiêm. Con thấy Ba để mũi tên cho từng 5 câu một. Con nhớ Ba kể hồi đi làm, Ba hay học từng 5 câu, thuộc rồi học 5 câu mới, ôn lại các câu trước và cứ thế… Con còn biện bạch chú Đại Bi, chú Bát Nhã… con tụng riết rồi thuộc luôn. Ba cười, yên lặng một lát rồi mới tỏ ra lấy làm lạ… Lạ là đúng rồi, Ba ơi, suy đi tính lại, muốn thuộc chú Thủ Lăng chắc phải học thôi. Các chú con thuộc thì ngắn hơn nhiều. Con mở cuốn II của Ba ra; con biết Ba đã sử dụng rất rất nhiều lần. Ba gạch dưới các câu quan trọng (con có đọc một vài trang bên giường Ba nằm cho Ba nghe lại đó); ghi chú tỉ mỉ; ở mỗi trang cuối chương, Ba vẽ bông sen (màu sắc, đậm nhạt có khác nhau), có lá sen, trong hồ sen thật đẹp, nhìn vào là nhớ ngay: “Sen nở là thấy Phật.” Con đã trao cho chị để khích tấn tụng, học và làm báu vật, kỷ niệm.
Nhờ bộ kinh Ba giới thiệu này mà con cũng được biết luôn nơi Ba hay thỉnh kinh sách để con có cơ hội cúng dường pháp. Ba cũng giới thiệu cho con một ngôi chùa bên đó, không gần, nhưng thỉnh thoảng Ba vẫn hay gởi chi phiếu cúng dường. Ba để lại email cho họ làm pháp thí, vì Ba biết họ rất hoan hỉ mỗi khi có một email mới. 
Mỗi lần con gởi hiện kim làm quà, Ba cứ xuýt xoa sao nhiều quá, sao không để lại làm từ thiện. Hôm con qua, còn lại mấy hộp nuts trong Hero Pack con gởi vẫn còn nguyên. Gói trà xanh của Nhật loại thượng hạng chỉ dùng cho ceremony con biếu năm nào, hình như Ba vẫn chưa được dùng. Ba chỉ biết cho đi thật nhiều, nhưng không bao giờ màng nhận lại.

* * *

Mỗi cuộc điện đàm của Ba là một pháp thoại, mỗi lá thơ Ba viết là một bài pháp. Trong lá thơ Ba viết cho con cách đây hơn 20 năm, kèm theo DVD để giải trí, là tài liệu “Pháp môn niệm Phật A Di Đà.” Ba dặn: “Nếu các con thấy ai thương đạo Phật mà bối rối đường tu thì nên copy tài liệu này tặng họ.” Ba nhấn mạnh: “Như các con đã biết, trong mọi bố thí, pháp thí là cao nhất.” Và tất nhiên, Ba giải thích tường tận tại sao.

Bố thí pháp còn thể hiện qua cách ứng xử trước tình huống ngang ngược của ma chướng, phải không Ba? Trong thời gian Ba yếu bệnh, messages của con gởi Ba bị khóa lại. Ba nhờ người khác gởi messages của Ba cho con mà họ không làm. Ma chướng cản không cho con đi thăm Ba. Nhưng ma chướng đã không thể ngăn cản được sợi dây vô hình của giao cảm. Chúng càng lộng hành thì rung động càng cao. Tối hôm ấy viết xong những gì con cần và muốn nói với Ba lần cuối, con bỗng quyết định lấy vé, bay qua nhà Ba sáng hôm sau. Soi gương, con giựt mình. Mắt con chưa bao giờ bị đỏ kinh hồn như thế, mặc dù con chưa có giờ để khóc. Ngày Ba nhập viện, sáng thức dậy, con hụt hẫng, bàng hoàng vì con thấy chị cả về rủ Ba đi. Con lo chắc không đầy hai tháng nữa… và quả vậy, Ba ơi.

* * *

Con đang ở nhà Ba, thăm Ba trọng bệnh, ma chướng đòi đẩy con ra một ngày trước khi con về. Như Ba thường nói, ma chướng nhiều lắm, thử lòng người. Vượt qua được, thành tựu mới đáng kể.
Có những điều rất đỗi cơ bản, dễ hiểu, không cần nói ra, ai cũng biết, thế nhưng ma chướng không những làm ngược lại mà còn vùng vằng, giãy nảy, hét la…
Như Ba hay dặn, phải biết chuyển hóa. Để chuyển hóa một phần cho những gì con đã trải qua với ma chướng, con xin lập lại vài điều để nhắc nhở những ai có người thân sắp đi. Không nên la hét, lớn tiếng, gọi giựt, lay tay quá mạnh, gây gỗ, nói chuyện quá to và quá lâu bên người bệnh, nhất là ngồi ngay trên đầu giường người bệnh để tán gẫu; không nên nói về tiền bạc hay mâu thuẫn, tranh cãi, thí nghiệm (như thử tắt máy niệm Phật xem….); muốn bật máy niệm Phật, tụng kinh hay trì chú để hộ niệm, nên sử dụng các bản dễ hiểu, hay trước đây người bệnh đã từng tụng, không nên thay đổi tùy tiện; đích thân các con hoặc người thân tụng ngay bên cạnh rất tốt; không nên bịa đặt, nói sau lưng người thân của người bệnh. Những gì mà ngay cả lúc người khỏe còn không nên làm, huống là…
Có những điều khá tức cười. Ví như, nghe nhạc để ngủ ngon, vậy có đợi ngủ mới bật nhạc không? Xin đừng đợi người bệnh đi rồi mới được niệm Phật.
Những ngày giờ cuối cùng trong đời người rất quan trọng; đó là thời gian để suy nghĩ, nói năng hay hành động vì người bệnh, chớ không phải để thi thố bản ngã nhỏ nhoi của cá nhân…
Ma quậy xong rồi, thấy Ba buồn quá, nó cầu cạnh con cứu chữa. Ánh mắt Ba nhìn như hôm đứa em trai gây sự với con trong nhà hàng chỉ vì con muốn tìm ghế booth cho Ba ngồi đỡ đau, mặc dù ngay trong lúc đó Ba chưa hiểu rõ nguyên nhân. Nhưng ánh mắt ấy nhân lên gấp bội phần khi Ba nghe ma chướng kiếm chuyện, bịa đặt và đòi kéo con ra khỏi bên Ba, khỏi nhà của Ba. Các ma chướng có chung một ngu si, nó cứ tưởng violent trước thì lỗi thuộc về người khác. Thế nên, chúng suốt ngày bị đảo điên khi không còn sự kiểm soát của con người.
Biết bao điều như thế, nhưng cuối cùng con đã làm được những điều cần làm khi bên Ba. Đôi khi, con chỉ muốn nghỉ “ráng” (tu) trong vài phút để đối đáp theo lẽ thường tình của thế gian… nhưng họ không hiểu nổi sự yên lặng của mình thì cũng sẽ không bao giờ hiểu ra lời lẽ của lương tri. Vì Ba, con yên lặng, và nhờ Ba, con có thêm nội lực.

* * *

Hôm ấy, nói chuyện với nurse xong, con tính gia hạn vé máy bay đợt về, vì con muốn ở lại niệm Phật tiễn Ba đi. Loay hoay mãi, con vẫn không biết đổi ngày nào. Và sẽ không bao giờ ai hiểu nổi tại sao con lấy vé đi đúng 5 ngày. Sáng hôm con về, con dậy thật sớm để được tụng thêm một thời kinh A Di Đà và ngồi niệm Phật bên Ba thêm chốc lát. Con lấy sponge thấm ướt môi Ba. Môi Ba hồng tươi rất đẹp. Con nhớ hôm con qua, ngồi niệm Phật một chập, tự nhiên môi Ba hồng đỏ. 
Trước khi con về, con đến chào Ba, nhắc Ba bên tai…, ngẩng lên nhìn, con thấy như Ba đang cười, con mừng quá. Gương mặt Ba thật tươi, thanh thản, nhẹ nhàng. Ba ready rồi.
Hồi đó, cha con mình đã có những cuộc điện đàm hàng giờ, vẫn chưa muốn thôi. Ba và con cứ nhường nhau, ai cúp phone trước. Con chợt hiểu Ba phải đợi con về, Ba mới đi. Và Ba chu đáo lắm, lúc nào cũng tính sẵn hết. Ba không đi khi con còn đợi ở phi trường. Ba đợi đến lúc con về nhà, unload xong xuôi, Ba mới đi. Ba biết con cần về để làm những gì kế tiếp.

* * *

Hôm sau khi con về lại đây, con đang ngồi viết lá thơ này, bỗng nhớ đến mẩu đối thoại với nhân viên hospice… Con vội vàng tụng Kinh A Di Đà, chú Thủ Lăng, 3 lượt rồi 7 lượt, rồi cứ thế... Như Ba thường nói, làn sóng âm thanh vi diệu có một sức mạnh thần kỳ. Con dốc lòng tụng thần chú Thủ Lăng Nghiêm, chắc trong lúc nguyện vọng của Ba đóng góp cho sự khám phá mới của khoa học, cho nghiên cứu để chữa trị, bảo vệ sức khỏe của nhân loại đang được thực thi.

Thầy nói, Ba đi trong lúc này đang có duyên thật đẹp. Tu viện có pháp hội 3 ngày tụng kinh Địa Tạng. Con biết Ba rất yêu quý Kinh Đại Thừa. Con chỉ mong mỏi được bao nhiêu phước thiện hồi hướng hết cho Ba. 
Ngày con lấy vé bay sang Ba, con không biết làm sao ra nổi phi trường vì đuối sức. Xuống phi trường bên đó, con không biết làm sao con có thể lèo lái qua bao thử thách để hoàn thành dự định của chuyến đi. Về lại bên này, con cũng không hiểu thế nào mà con đã hoàn thành pháp hội cả 3 ngày. Ngồi ngửa ra ghế, con nhớ lại lời Ba: con là đứa con ưu tú. Đạt danh hiệu này của Ba quả không phải là chuyện nhỏ.
Nếu kể ra, chắc ai cũng kinh ngạc..., vậy cuối cùng vẫn làm được những gì cần làm bên Ba?!. May ra chỉ cha con mình hiểu nổi. Tất nhiên, con còn muốn tiếp tục niệm Phật sau khi về, lúc Ba đi…. Nhưng giữ lòng hoan hỉ là điều mình cần tập trung làm khi ma chướng đang bị thiếu thốn chất liệu này ghê gớm lắm.

* * *

Hôm nay, chúng con xin thọ tang Ba, được cúng thất đầu tiên. Màu đỏ trong mắt con đã nhạt dần, gần trở lại bình thường, cho con tập tễnh đi vào cuộc sống không còn như trước nữa, khi không còn được nghe Ba nói. Thân bằng, quyến thuộc đến thăm viếng Ba đông đủ, hết lòng hỗ trợ Ba, một người cha khả kính, tài năng. Về nhà, chúng con ăn trái bưởi trắng Ba trồng. Để mấy ngày rồi mà vẫn ngọt, giòn. Mấy lần con qua không đúng mùa, Ba cứ tiếc sao con vẫn chưa được ăn bưởi Ba trồng, mặc dù con đã được thử cam, quýt vườn Ba. Ba có tài hội họa, vẽ tranh, vẽ thẳng trên tường, vẽ hoa sen trên trang kinh sách; khắc lược, làm vòng đeo, sáng tạo dây chuyền… thật là mỹ thuật, tinh vi và sắc sảo. Ba làm thơ đạo, thơ thiền, văn xuôi đều dồi dào cảm xúc và sâu sắc tư duy; Ba trồng cây kiểng thì lá xanh tươi, hoa nở rộ. Ba trồng cây ăn trái thì trái ngon, ngọt, mọng nước. Ba làm gì cũng hay, cũng thể hiện một năng khiếu quý hiếm.
Ba thường tôn kính, trân trọng khi nói về những đại nguyện của Bồ Tát. Ba ơi, Ba đã hy sinh cả đời người, vượt qua bao sóng gió đầy gian nan, thử thách, cực kỳ hiểm nguy để cứu vớt chúng con lên bến bờ tự do, ăn học thành tài, an lập một cuộc sống ấm no, tự lập, để bây giờ chúng con có thể tập trung cho việc tu tập và làm thiện nguyện cho pháp thí. Con sẽ tiếp tục góp nhặt từng việc phước thiện trong 49 ngày, gom lại, chỉ ước mong sao con có thể hồi hướng hết cho Ba.
Ba hay phát nguyện và đều thành công. Ba nguyện chỉ gạo lức muối mè, âm dương quân bằng cho thân tâm thanh tịnh. Ba đã thành công. Ba nguyện phải thuộc nằm lòng chú Thủ Lăng Nghiêm kẻo mai này, mắt mờ, trí chậm, không đọc được nữa. Và ba đã hoàn thành, trì tụng trong bao chục năm qua không cần nhìn sách. Ba nguyện phải bằng mọi cách đưa chúng con sang đây, sống trên cường quốc của thế giới. Ba cũng đã hoàn thành mỹ mãn. Thế mà Ba vẫn nói với con rằng: Lúc sống không đóng góp được gì cho đạo pháp, nhân loại, nên Ba phát tâm cho đến cuối đời vẫn tiếp tục nguyện hiến dâng thi thể cho nghiên cứu. Hạnh nguyện này của Ba cũng đã thành tựu. Đây thực sự là một sự hy sinh vô cùng cao đẹp và đáng trân trọng trong một kiếp làm người. Trong y học, xứng đáng được tôn vinh là “những người thầy thầm lặng” (silent teachers) vì Ba đã để lại món quà vô giá cho thế hệ mai sau.
Và như thế, con tin rằng khi Ba phát nguyện sinh về Tịnh Độ để được tập trung, tinh tấn cho việc tu tiến, sau này góp phần hoằng pháp độ sanh, ước nguyện này cũng sẽ được chứng giám và trở thành sự thật. Con cầu nguyện Đức Địa Tạng dùng trượng vàng, châu sáng, soi đường, chỉ lối, bao bọc, chở che Ba mau mau lên đường, đi đến Đức Phật A Di Đà. Cam lồ từ bi của Đức Quán Thế Âm và ánh sáng trí tuệ vô thượng của Ngài Đại Thế Chí soi rọi, dẫn đường thoát khỏi vô minh, tiếp dẫn Ba đi dưới hào quang chư Phật. Con cầu nguyện Ngài A Di Đà phóng quang tiếp độ Ba về miền Tịnh Độ, giúp Ba tiến hành ước nguyện thiêng liêng, cao cả này. Nơi đó sẽ luôn thanh bình, an lạc, tươi sáng và thanh tịnh. Nơi đó chỉ có tiến và không có sự thoái lui. Nơi đó, Ba được chuyên ôn trì kho tàng vô giá vẫn luôn sẵn trong A Lại Da Thức mà Ba hằng trau dồi, huân tập: Lòng yêu thương, trân quý đạo Phật và luôn luôn muốn quảng bá, trao truyền pháp môn niệm Phật, gieo rắc niềm tin nơi Phật pháp nhiệm màu, am tường Phật pháp, thông hiểu luật nhân quả…. Và trong kho tàng quý báu đó là chú Thủ Lăng Nghiêm! Với kho tàng này, Ba tiếp tục học hành, tiến tu, cho đến ngày thành tựu đạo quả. Và Ba sẽ tiếp tục góp phần lưu truyền Phật pháp được trường tồn, cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc.

Và khi mãn phần, con cũng sẽ xin về đó. Ba lên trước, tu tập tinh tấn, khi đủ duyên, Ba lại giúp con lên.

* * *

Lời nhắn cuối Ba gởi và con nhận được: “Ba sống tới tuổi thọ 90, là đủ rồi. Ba không mong ước gì hơn đâu Con!
Một mai Ba good bye, Con đừng khóc nhé!…”
Con nhất định sẽ không khóc đâu Ba. Vì con hiểu có đến sẽ có đi; nhân, duyên tụ rồi sẽ tán; vì con biết ngày hôm nay sẽ không thể nào tránh khỏi; và cũng vì con nhớ “ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách, sắc tức thị không, không tức thị sắc…” 
Nhưng nếu có chất xúc tác nào lỡ chạm phải một dây thần kinh, kích thích tuyến lệ cho nước chảy ra, thì đó chỉ là một phản ứng hóa học tự nhiên thôi đó, Ba.

Con vẫn luôn có Ba, trong từng thời công phu, trì tụng chú Thủ Lăng Nghiêm. Ba luôn vẫn trong con, trong mỗi vitamin, mảnh rau, hạt đậu, gạo lức hàng ngày mà Ba đã tìm tòi, nghiên cứu, phân tích, khuyến khích con dùng. Ba luôn vẫn trong con, trong từng bước chân kinh hành, đi bộ mà Ba đã từng tán thán lợi ích của việc đi bộ và mong sao chúng con cùng về hưu sớm để cùng đi mỗi ngày. Khi Ba đi bộ, Ba niệm Phật, kinh hành, không thích nói chuyện. Ba vẫn luôn trong con, trong từng ý nghĩ, suy tư làm thế nào để lợi lạc cho đạo pháp, để chuyên tâm trong từng việc thiện nguyện cúng dường Phật pháp. Ba vẫn trong con, trong từng giấc ngủ vì Ba hằng nói, giấc ngủ rất là quan trọng. Và Ba vẫn trong con, trong từng hơi thở. Kể đến bao lâu cũng không thể hết những gì Ba đã làm và để lại cho con.

* * *

Trên bầu trời vẫn muôn vàn vì sao lấp lánh. Trong cuộc đời, có bao sự đổi thay. Riêng trong con, giữa tâm thức này, sẽ không bao giờ thay đổi: Diễm phúc lớn nhất trong đời con là được làm con của Ba và có Ba là Ba của con.
Back to Top